Cây sậy (lau sậy) và bài thuốc lợi tiểu, chữa trị viêm bóng đái


  • Tên khác: cây lau sậy, lô vi, lô trúc
  • danh pháp khoa học: Cây sậy thường (lô vi) có danh pháp khoa học là Phragmites australis (1). Cây sậy trúc (lô trúc) có danh pháp khoa học là Arundo donax. Cả hai loài này đều thuộc họ Lúa: Poaceae (2).
  • Tính vị: vị ngọt nhẹ, tính mát
  • Công dụng chính: thanh nhiệt, đào thải độc, lợi tiểu, chữa trị gout, viêm bóng đái

Có thể nói; năn, lát, lau, sậy… là những loài cây đặc trưng của đồng bằng Nam Bộ thời khai phá. Trong đó, cây sậy khẳng khiu bao giờ cũng gợi sự thân thiện, thân thiết như cách mà người Nam Bộ thường ví: “coi tướng nó ốm như cây sậy kìa”.

Trước đây, người ta rất hay sử dụng sậy để làm giàn cho dưa leo, bí đao và các dây leo khác. thi thoảng, một vài người còn sử dụng cây sậy để làm thuốc.

Vậy, bộ phận nào của cây sậy đã được sử dụng làm thuốc và có công dụng gì?

Vài nét về cây sậy

Ở nước ta, có hai loại sậy được biết tới nhiều là sậy thường (phân bố nhiều ở miền Nam) và cây sậy trúc, tức sậy núi (mọc nhiều ở các tỉnh phía Bắc).

Cây sậy thường (lô vi) có danh pháp khoa học là Phragmites australis (1). Cây sậy trúc (lô trúc) có danh pháp khoa học là Arundo donax. Cả hai loài này đều thuộc họ Lúa: Poaceae (2).

Thân lau sậy ốm tong teo, khẳng khiu và rỗng ruột. Riêng cây sậy trúc thì phần thân rễ có khi phình thành củ. Lá sậy thuôn nhọn và dài, mọc cách xa nhau và hơi khô ráp ở mép lá. Bông sậy có màu tím mọc thành từng chùm ở ngọn cây, nhìn như cờ hoa.

Ngày nay, lau sậy bị chặt phá nhiều để canh tác nông nghiệp. Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn còn các bãi sậy lớn để cung cấp cho nghề làm chổi (chổi sậy). Trước đây, trẻ nhỏ hay cầm chổi sậy quơ qua quơ lại đùa giỡn. Nhiều bà mẹ thấy thế liền hù doạ: “chổi sậy mà quánh trúng đầu là hết đầu thai nghen” hay “tụi bay quơ một hồi bông nó rụng ra, văng trúng vô mắt là đui luôn nghe” (vì chổi sậy mới mua về vẫn còn nhiều bông bụi).

Công dụng của cây sậy cây lau sậy

Hình ảnh cây lau sậy

Công dụng của cây sậy thường

Lau sậy là loại thuốc mọc hoang dại, có thể tự tìm và tương đối an toàn vì có tính mát và không có độc. Ở quê tôi, cây sậy thông thường được biết tới với công dụng thanh nhiệt và lợi tiểu. ngoài ra, theo y học cổ truyền, cây sậy thường còn có các công dụng khác như:

  • chữa trị sỏi thận
  • Làm giảm lượng axit uric trong cơ thể, vì vậy có thể hỗ trợ chữa trị gout.
  • Giúp đổ mồ hôi, hạ sốt, giảm cảm giác khát nước và bứt rứt, khó chịu trong người.
  • chữa trị sốt nổi ban và ban trái.
  • chữa trị viêm bóng đái và thống phong.

cách sử dụng: Lấy rễ sậy tươi ngâm nước một đêm và một ngày rồi bỏ các rễ con, phơi khô rồi xắt nhỏ ra. Mỗi ngày, sử dụng khoảng 20 gram rễ sậy nấu trong 1 lít nước. để mắt tới, khi nước sôi thì tắt lửa và để sắc nước thuốc thêm 15 phút nữa, sau đó mới rót ra và uống trong ngày (3).

Tham khảo:

Thông tin thêm về cây sậy thường

Ở Trung Quốc, cây lau sậy thường được sử dụng cả rễ và thân để làm thuốc chữa trị ói mửa, phế ung (5). Lá sậy nước cũng được sử dụng chữa trị ói mửa (6).

Theo “Bản thảo đồ kinh”, hoa của cây sậy thường còn có công dụng cầm máu, đào thải độc (được sắc đặc và uống để đào thải độc do các loài cua và cá gây nên) (6).

Công dụng của cây sậy trúc

Bên cạnh sậy thường hay mọc tại các bờ bãi sông rạch Nam Bộ còn có cây sậy trúc, mọc tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Các bộ phận được sử dụng làm thuốc của cây là:

Rễ: Rễ sậy trúc cũng như rễ sậy thường ở công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu khát và thanh nhiệt, hạ sốt. 

Thân rễ: Thân rễ cây sậy trúc có công dụng giảm nhọt (nghiền nát rồi đắp lên da), giảm đau răng và chữa trị chứng phát cuồng.

Chồi non: Chồi non của sậy trúc cũng được sử dụng làm thuốc chữa trị chứng đau răng, đầu óc hay xây xẩm và thổ huyết do phế nhiệt (4).

một vài bài thuốc phối hợp có sử dụng sậy trúc

chữa trị viêm não Nhật Bản B (ở thời kỳ mới phát hoặc toàn phát chưa có biến chứng): sử dụng rễ sậy, kim ngân hoa (mỗi vị 16 gram), thạch cao (40 gram), hoàng cầm, liên kiều (mỗi vị 12 gram) và bạc hà (8 gram) (4).

chữa trị bại liệt ở trẻ em (ở thời kỳ mới phát): sử dụng rễ sậy (8 gram), đậu sị (4 gram), liên kiều, ngưu bàng, kinh giới (mỗi vị 6 gram), kim ngân (12 gram), bạc hà, cát cánh, cam thảo (mỗi vị 2 gram). Nếu trẻ kèm theo ho thì sử dụng thêm 8 gram quy nam (tức tiền hồ), nếu trẻ bị bại liệt có kèm theo ói mửa thì thêm 4 gram tinh cây tre (là vị thuốc trúc nhự). Mỗi ngày sắc 1 thang như trên, uống kiên trì trong nhiều ngày để thấy hiệu quả.

để mắt tới

Trong sậy trúc có thành phần làm tăng huyết áp khi sử dụng với liều thấp và gây hạ huyết áp khi sử dụng ở liều cao (kết quả thử nghiệm trên chó). Do vậy, những người bị bệnh liên quan tới huyết áp cần để mắt tới và tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng (4).

Sậy là nguồn thuốc không có độc, không độc nhưng cũng không nên sử dụng quá mức. Ngoài ra, cũng như nhiều vị thuốc Đông y khác, rễ sậy, thân sậy cần được sử dụng kiên trì để thấy hiệu quả.

Nguồn tham khảo

  1. Phragmites australis, https://vi.wikipedia.org/wiki/Phragmites_australis, ngày truy cập: 29/09/2019.
  2. Sậy núi, https://vi.wikipedia.org/wiki/Sphần trămE1phần trămBAphần trămADy_nphần trămC3phần trămBAi, ngày truy cập: 29/09/2019.
  3. Võ Văn Chi, thảo dược An Giang, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật An Giang, trang 477. ngày truy cập: 29/09/2019.
  4. Nhiều tác giả, thảo dược và động vật làm thuốc tại Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2004, trang 720. ngày truy cập: 29/09/2019.
  5. 芦苇, https://zh.wikipedia.org/zh-hans/芦苇, ngày truy cập: 29/09/2019.
  6. 芦苇, http://www.bydsd.com/a/shengwuziyuan/zhiwuziyuan/20180810/651.html, ngày truy cập: 29/09/2019.





Source link

Post Author: UVbH5Xr8ZW